Sản phẩm nổi bật
Đối tác - Khách hàng
Tỷ giá
Ngoại tệ : (VNĐ)
Thống kê truy cập
mod_vvisit_counter Đang online 4

Sử dụng kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị

Thứ năm, 17/05/2012, 02:14

Hiện nay, các bệnh lý thận - tiết niệu (TTN) đang ngày một gia tăng ở nước ta. Ứng dụng các kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị là xu thế phát triển tất yếu. Để hiểu hơn về các ứng dụng này chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với PGS.TS. Đinh Thị Kim Dung - Trưởng khoa Thận - Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai, Chủ tịch Hội thận học Hà Nội.

PV (Phóng viên): Thưa PGS. hiện nay chúng ta đã áp dụng những kỹ thuật cao nào trong chẩn đoán các bệnh lý TTN?

PGS.TS. Đinh Thị Kim Dung (PGS. ĐTKD): Trong chẩn đoán bệnh TTN có các kỹ thuật như nội soi, sinh thiết, chẩn đoán hình ảnh.... Nội soi bàng quang, niệu quản, bể thận... nhằm tìm kiếm, phát hiện và quan sát các tổn thương thực thể từ nhỏ đến lớn. Các kỹ thuật sinh thiết để chẩn đoán tổn thương ở mức độ vi thể - chẩn đoán mô bệnh học. Ứng dụng siêu âm để định vị tổn thương giúp lấy tế bào một cách chính xác hơn. Phương pháp chẩn đoán mô bệnh học dùng kính hiển vi, miễn dịch huỳnh quang, kính hiển vi điện tử... để chẩn đoán những tổn thương vi thể một cách chi tiết và chính xác trong nhiều bệnh lý TTN khác nhau.

PGS.TS Đinh Thị Kim Dung Trưởng khoa Thận tiết niệu
BV Bạch Mai
Ngoài ra, phương pháp này còn giúp phát hiện được nhiều bệnh cầu thận có tính chất di truyền, phát hiện những tổn thương ở cầu thận, ống kẽ thận. Các đột biến gen, bệnh lý di truyền, những bất thường nhiễm sắc thể được phát hiện bằng phương pháp sinh học phân tử... nhờ đó có thể chẩn đoán một cách chuyên sâu, cũng như nghiên cứu điều trị thiết thực hơn cho người bệnh.

Một số phương pháp chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp 64 dãy, 256 dãy giúp hỗ trợ phát hiện những bất thường, dị dạng cấu trúc hệ thống TTN nhằm phát hiện nhiều bệnh mà trước đây không phát hiện được. Chẳng hạn như dị dạng mạch máu trước đây chỉ được phát hiện nhờ kỹ thuật chụp mạch tại các bệnh viện lớn và thường phát hiện muộn khi bệnh đã có nhiều biến chứng rõ ràng.

Nhờ chụp CT cắt lớp nhiều dãy, người thầy thuốc có thể phát hiện sớm và chính xác được những biến đổi cấu trúc mạch máu của hệ thống TTN, phát hiện những thông dò giữa động - tĩnh mạch trong thận, nhằm chẩn đoán nguyên nhân đái máu khó điều trị ở nhiều bệnh nhân. Cùng với CT, phương pháp MRI cũng phát hiện được những tổn thương bất thường ác tính (ung thư) của hệ thống TTN, giúp chẩn đoán chính xác vị trí tổn thương, từ đó có phương pháp điều trị sớm, kịp thời.

Trước đây phải mất nhiều thời gian để chẩn đoán bệnh TTN hoặc chẩn đoán khi bệnh lý đã quá rõ trên lâm sàng. Ngày nay nhờ các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại có thể phát hiện sớm bệnh TTN, rút ngắn thời gian chẩn đoán, giảm thiểu biến chứng và kéo dài tuổi thọ cho người bệnh.

PV: Còn trong lĩnh vực điều trị thì sao, thưa PGS?

PGS. ĐTKD: Trong điều trị bệnh nhân bị suy thận giai đoạn cuối cần lọc máu và ghép thận. Các kỹ thuật lọc máu thông thường như thận nhân tạo (HD) và lọc màng bụng (PD) đã trở thành thường quy. Tuy nhiên màng lọc ngày càng tinh xảo, chuyên biệt, có ưu thế lọc được nhiều chất độc ở các mức độ trọng lượng phân tử thấp hơn, khiến chất lượng lọc máu ngày càng tốt hơn, người bệnh thích ứng dễ dàng hơn, giảm thiểu biến chứng như phản ứng dị ứng, giảm thiểu một số bệnh của người lọc máu lâu dài.

Các máy lọc máu càng ngày càng tinh vi, thầy thuốc sử dụng phần mềm tốt hơn, tính toán và lập trình điều trị phù hợp cho từng người bệnh cụ thể.

Có nhiều phương pháp lọc máu khác như siêu lọc chậm liên tục (SCUF), lọc máu tĩnh mạch – tĩnh mạch liên tục (CVVH), thẩm tách siêu lọc máu tĩnh mạch – tĩnh mạch liên tục (CVVHDF), thay huyết tương (PE), lọc huyết tương (PA), thẩm tách siêu lọc máu (HDF online)... Việt Nam đã ứng dụng các phương pháp này để điều trị cho nhiều bệnh nhân nặng, mắc bệnh hiểm nghèo có và không có suy thận kèm theo.

Trong điều trị một số bệnh thận như viêm cầu thận thể tiến triển nhanh, viêm cầu thận lupus, thải ghép cấp cần sử dụng phối hợp thuốc ức chế miễn dịch điều trị tấn công có thể phải kết hợp với lọc máu bằng một trong các phương pháp trên đem lại hiệu quả điều trị tốt cho người bệnh.

Kỹ thuật lọc máu bằng phương pháp lọc màng bụng cũng có nhiều loại như lọc màng bụng liên tục ngoại trú (CAPD) người bệnh có thể tự thực hiện tại nhà hay lọc màng bụng bằng máy tự động (APD) do thầy thuốc lập chương trình lọc tự động ban đêm tại nhà cho bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối… Dịch lọc cũng ngày càng nhiều ưu điểm hơn, thanh lọc được nhiều chất độc trong cơ thể, đảm bảo được hiệu quả lọc tốt.

Ghép thận là một biện pháp điều trị thay thế thận có hiệu quả, nhiều ưu điểm, kết hợp với uống thuốc chống thải ghép đầy đủ, giúp những người bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối có một cuộc sống khá chất lượng.

Ngoài ra phải kể đến các kỹ thuật ứng dụng trong điều trị bệnh lý sỏi tiết niệu. Tùy từng vị trí, kích thước sỏi ở bể thận, niệu quản, bàng quang, tùy vào thể trạng của người bệnh mà thầy thuốc lựa chọn các biện pháp thích hợp như tán sỏi ngoài cơ thể hay tán sỏi nội soi qua da bằng laser... Các phương pháp tán sỏi này đã giúp giải quyết các bệnh lý sỏi TTN mà không cần phải phẫu thuật, can thiệp tối thiểu và đem lại hiệu quả tốt cho người bệnh…

Mổ nội soi phì đại tuyến tiền liệt, cắt thận, cắt bán phần thận bằng nội soi, kể cả có sự trợ giúp của Robot tự động cũng đang được áp dụng trong lĩnh vực tiết niệu…

PV: Thưa PGS. các bệnh lý TTN thường diễn biến âm thầm, vậy người bệnh làm thế nào để biết mình có mắc bệnh hay không?

PGS. ĐTKD: Phát hiện sớm các triệu chứng như tiểu buốt, tiếu dắt, tiểu đục, đau hông lưng, tự nhiên mệt mỏi, chán ăn, da hơi xanh.... cần đến khám ngay các bác sĩ chuyên khoa để được chẩn đoán bệnh và có hướng điều trị kịp thời ở giai đoạn cấp tính. Hoặc sau viêm họng khoảng 2 tuần người bệnh có thể thấy chân hơi nề lên, hoặc hai mí mắt nặng hơn, nhưng không có rối loạn tiểu tiện... đó là biểu hiện của bệnh lý cầu thận.

Nếu người bệnh bỏ qua thì bệnh sẽ diễn biến nặng và dễ trở thành mạn tính. Hoặc bị nhiễm khuẩn đường tiết niệu: đi tiểu nhiều lần, tiểu hơi buốt buốt, hơi đau tức vùng bàng quang đó là biểu hiện ban đầu của nhiễm trùng đường tiết niệu. Chỉ đến khi có các triệu chứng rất nặng như có hội chứng ure máu cao, xuất hiện nôn ọe, đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi nhiều... người bệnh mới tìm đến bác sĩ.

Đôi khi có các triệu chứng quá rõ như tiểu buốt, tiểu dắt, tiểu mủ, tiểu máu, bí tiểu... người bệnh buộc phải tìm đến bác sĩ nhưng người Việt Nam mình thường hay có thói quen chỉ đến bác sĩ một lần, lần sau có triệu chứng giống như vậy là tự đi mua thuốc, tự chữa không đúng phương pháp khiến bệnh dễ diễn tiến âm thầm. Chính vì các triệu chứng rất mờ nhạt nên có nhiều người tuy còn ít tuổi đã bị suy thận giai đoạn cuối.

Bệnh nhân đang lọc huyết tương

PV: PGS. có lời khuyên gì đến độc giả của báo SK&ĐS khi thực hiện các kỹ thuật cao này? Để  phòng ngừa các bệnh lý TTN mọi người cần phải làm gì, thưa PGS.?

PGS. ĐTKD: Không nên lạm dụng các kỹ thuật cao. Hiện nay có nhiều bệnh nhân sính kỹ thuật cao cứ đòi hỏi bác sĩ cho đi làm các xét nghiệm hoặc các thăm dò chức năng hay chẩn đoán hình ảnh đắt tiền. Việc làm này không những gây một sự lãng phí và tốn kém không cần thiết mà quan trọng là lại có hại cho sức khỏe bệnh nhân do tác hại của hóa chất xét nghiệm...

Để phòng tránh các bệnh TTN, mọi người cần được đi khám định kỳ 6 tháng/lần để tầm soát và phát hiện sớm các bệnh lý TTN. Đơn giản nhất là xét nghiệm nước tiểu, đo huyết áp, đánh giá chức năng thận bằng xét nghiệm ure, creatinin trong máu, xét nghiệm đường máu, nhằm phát hiện có bất thường về TTN hay không, có tổn thương chức năng thận chưa, tổn thương ở mức độ nào, có liên quan đến tăng huyết áp và đái tháo đường không.

Các xét nghiệm này bất kỳ cơ sở y tế nào cũng có thể thực hiện được. Khi phát hiện những bất thường về TTN thì nên đến gặp bác sĩ chuyên khoa TTN để được khám, tư vấn và nếu cần thiết sẽ tiếp tục làm các xét nghiệm sâu hơn. Có như vậy bệnh nhân mới được chỉ định xét nghiệm cần thiết, không bị lạm dụng và an toàn.

Cần chú ý 2 nhóm bệnh là nhiễm trùng và cầu thận. Ngoài ra cũng cần quan tâm đến bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường là hai bệnh có liên quan trực tiếp tới TTN. Không nên ăn quá mặn. Không để viêm nhiễm đường hô hấp trên, viêm họng, các bệnh lý viêm nhiễm ngoài da vì các bệnh này có liên quan trực tiếp tới các bệnh lý cầu thận. Phòng ngừa các bệnh lý nhiễm trùng đường tiết niệu bằng cách uống đủ nước 1,5 – 2 lít nước một ngày, các loại nước: nước quả, nước sôi để nguội, nước trà, nước khoáng... Không nên nhịn tiểu quá mức, trong vòng 4 giờ phải đi tiểu 1 lần.

Cần có chế độ ăn uống sinh hoạt điều độ hợp lý, tránh lạm dụng các chất kích thích như cà phê, rượu, bia. Ngoài ra tình trạng lạm dụng thuốc hiện nay ở nước ta cũng làm gia tăng các bệnh lý TTN, dùng các thuốc chống viêm giảm đau nhiều, uống các thuốc lá không rõ nguồn gốc có thể dẫn đến các bệnh lý ống kẽ thận và suy thận.

Việc dùng kháng sinh tùy tiện, nhất là nhóm aminoglycoside... dễ làm tổn thương thận. Ngộ độc các hóa chất trong sinh hoạt, phốt pho hữu cơ... cũng ảnh hưởng đến thận về lâu dài, thậm chí có thể gây suy thận. Uống mật các loại động vật, ngộ độc thực phẩm nếu không điều trị kịp thời cũng sẽ dẫn đến suy thận cấp...

PV: Xin cảm ơn PGS về cuộc trò chuyện này!

(Nguồn: suckhoedoisong.vn)